47 năm xây dựng và trưởng thành

VKSND

   

T́m kiếm

 

Thông tin hỗ trợ

    Hỗ trợ kỹ thuật trong khoảng thời gian từ 8h đến 17h các ngày thứ hai đến thứ sáu hàng tuần (CST).

Điện thoại liên hệ

(0350)836654-862541

Thư điện tử

nqdh@yahoo.com

 

Nam Định

Hôm qua

Có băo từ và chịu ảnh hưởng của băo số 7, gió mạnh dần lên cấp 4, cấp 5, biển động mạnh

Hôm nay

Do ảnh hưởng của băo số 7, trên địa bàn sẽ có mưa to đến rất to, gió băo mạnh dần lên cấp 7 giật trên cấp 7, biển động mạnh

Ngày mai

Ảnh hưởng của băo số 7, mưa to đến rất to, gió băo mạnh cấp 10 giật trên cấp 10, biển động dữ dội

 

       Trang thông tin này  chúng tôi tổng hợp và trả lời một số câu hỏi t́nh huống mà độc giả đặt ra, nhằm t́m hiểu và nắm rơ hơn các văn bản quy phạm pháp luật, những văn bản pháp luật mới được công bố của Nhà nước ta.


   

Trước khi thành lập Viện Kiểm sát nhân dân chúng ta đă có Viện Công tố. Xin cho biết ư nghĩa ra đời và vai tṛ lịch sử của Viện Công tố trong những năm đầu bảo vệ chính quyền cách mạng?

    Lịch sử Viện Kiểm sát nhân dân Việt Nam, nếu bắt đầu từ cơ quan Công tố - tiền thân của nó, th́ kể từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà đến nay, trải qua 60 năm đă luôn luôn đi ở hàng đầu trên con đường cải cách để xây dựng nền tư pháp cách mạng. Trong khoảng thời gian 15 năm từ sau cách mạng Tháng 8 năm 1945 đến trước khi có Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân được công bố ngày 26/7/1960, cơ quan Công tố của chính quyền cách mạng đă mau chóng được thành lập ngay từ năm 1946 và trở thành công cụ sắc bén của chính quyền cách mạng. Chỉ sau đó chưa đầy 5 năm, trong cuộc cải cách tư pháp lần thứ nhất vào giữa năm 1950, Viện Công tố đă thực hiện 2 bước đổi mới quan trọng về tổ chức và hoạt động. Đến năm 1958, Viện Công tố lại thực hiện việc đổi mới căn bản bằng việc h́nh thành một hệ thống độc lập từ Trung ương đến huyện với những chức năng mới, khác hoàn toàn với giai đoạn trước. 15 năm của Viện Công tố (từ 1945 đến 1960) với truyền thống và kinh nghiệm của nó đă trở thành và xác lập những tiền đề vững chắc để thành lập Viện Kiểm sát nhân dân dựa trên nền tảng về tổ chức, nhân sự, kinh nghiệm hoạt động của Viện Công tố những năm kháng chiến chống Pháp và những năm đầu cải tạo xă hội chủ nghĩa.

    Về đầu trang

   

Lịch sử xây dựng và phát triển của Viện Kiểm sát nhân dân Việt Nam 45 năm qua từ năm 1960 đến nay (2005), đă có những đổi mới nào đáng quan tâm nhất?

    Có thể khẳng định, bằng Hiến pháp 1959 và Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân năm 1960, cơ quan Viện Kiểm sát nhân dân được thành lập trong bộ máy Nhà nước xă hội chủ nghĩa, có thể coi một nội dung quan trọng bậc nhất trong cuộc cải cách tư pháp ở nước ta diễn ra vào năm 1960. Với bước chuyển từ Viện Công tố sang Viện Kiểm sát nhân dân là thực hiện một bước đi căn bản trong việc xây dựng một cơ quan hoàn toàn mới trong bộ máy Nhà nước xă hội chủ nghĩa, trên cơ sở vận dụng sáng tạo lư luận của Lênin về Viện Kiểm sát nhân dân, một cơ quan chỉ làm một công việc và chỉ công việc đó mà thôi là quyết định đưa vụ án ra Toà án và đảm bảo sự tuân thủ pháp luật một cách nghiêm chỉnh và thống nhất. Bằng cách đó, các thế hệ cán bộ Kiểm sát của chúng ta suốt 45 năm qua kể từ 1960 đến nay, người người, lớp lớp đă hiến dâng cả tâm huyết, trí tuệ, đức tin, sức lực và niềm tự hào, tinh thần dũng cảm và ḷng nhân ái trong sự nghiệp đấu tranh giữ ǵn tính nghiêm minh của pháp luật, đảm bảo cho việc chấp hành pháp luật một cách nghiêm chỉnh và thống nhất, đấu tranh có hiệu quả với mọi loại tội phạm và vi phạm pháp luật, góp phần quan trọng vào sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Thông qua trang Thông tin điện tử của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định, nhân dịp kỷ niệm 45 năm thành lập Ngành, chúng tôi muốn bày tỏ ḷng biết ơn sâu sắc tới các thế hệ cha anh đă viết nên những trang sử truyền thống rực rỡ của ngành Kiểm sát nhân dân, để các cán bộ Kiểm sát hôm nay kế thừa và tiếp tục đi tới trên con đường lớn của sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xă hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và v́ nhân dân.

    Kể từ những năm bước vào thời kỳ đổi mới từ 1987 đến nay, trong số các cơ quan tư pháp th́ Viện Kiểm sát là cơ quan đi đầu trong quá tŕnh cải cách tư pháp, một cơ quan nghiêm chỉnh thực hiện sự đổi mới ngày càng sâu rộng trên tất cả các phương diện về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, về xây dựng lực lượng cán bộ Kiểm sát.

    Với việc ra đời Hiến pháp năm 1992 và Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân năm 1992, phạm vi chức năng và tổ chức hoạt động của Viện Kiểm sát nhân dân đă có nội dung đổi mới quan trọng bằng việc xác định rơ để phân biệt chức năng công tố và chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật.

    Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) và Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân năm 2002 đă đánh dấu một bước chuyển cơ bản về chức năng của Viện Kiểm sát nhân dân, sau hơn 40 năm hoạt động, Viện Kiểm sát nhân dân không làm chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế, xă hội nữa (một thời gian dài được gọi là kiểm sát chung). Tổ chức bộ máy kiểm sát chung từ Trung ương, tỉnh và huyện kịp thời được giải thể, hơn 1.000 cán bộ chuyên trách về công tác kiểm sát chung với bao nhiêu tâm tư, ước vọng được chuyển đi tăng cường cho bộ máy thực hành quyền công tố. Cơ quan Điều tra ở Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh giải thể, chỉ duy tŕ một Cơ quan Điều tra ở Viện Kiểm sát nhân dân tối cao để thực hiện thẩm quyền điều tra của Viện Kiểm sát trên phạm vi cả nước. Chúng ta đă có thành công lớn trong việc thống nhất về tư tưởng và hành động của toàn thể cán bộ kiểm sát các cấp để thực hiện kịp thời việc điều chuyển chức năng của Viện Kiểm sát theo chủ trương chung.

    Tiếp đó liên tục trong 2 năm liền, Bộ luật tố tụng h́nh sự sửa đổi 2003 và Bộ luật tố tụng dân sự 2004 được Quốc hội thông qua, là 2 Bộ luật tố tụng tư pháp rất lớn, hội tụ được những nội dung rất cơ bản của chủ trương cải cách tư pháp. Với Bộ luật tố tụng h́nh sự sửa đổi 2003, điểm đổi mới căn bản của Viện Kiểm sát là phân biệt rơ thẩm quyền và biện pháp riêng biệt của hai chức năng công tố và chức năng kiểm sát tư pháp, giúp cho Viện Kiểm sát thực hiện đầy đủ hơn cả hai chức năng này. Với Bộ luật tố tụng dân sự 2004, phạm vi, chức năng và thẩm quyền của Viện Kiểm sát cũng đă thực hiện những bước thay đổi căn bản. Viện Kiểm sát thôi không thực hiện thẩm quyền khởi tố vụ án dân sự là thẩm quyền đă được xác định cho Viện Công tố và Viện Kiểm sát, suốt từ năm 1950 đến năm 2003. Đổi mới phạm vi tham gia phiên toà xét xử dân sự của Viện Kiểm sát một cách đáng kể, Kiểm sát viên không tham gia phiên toà xét xử dân sự 100% nữa; nhưng Viện Kểm sát tập trung vào việc kiểm sát các quyết định xử lư vụ việc dân sự của Toà án, được các Toà án ngang cấp gửi đến và đây là một trọng tâm mới của công tác kiểm sát dân sự trong giai đoạn hiện nay.

    Kể từ đầu năm 2002, khi có Nghị quyết số 08 ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”, Viện Kiểm sát nhân dân đă triển khai hàng loạt các biện pháp để thực hiện các nội dung về cải cách tư pháp như tập trung làm tốt chức năng công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, thực hiện chức năng công tố ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá tŕnh  tố tụng. Nhờ đó đă có nhiều chuyển biến tích cực trong việc thực hiện phương châm không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, phát hiện và xử lư kịp thời những trường hợp sai phạm của những người tiến hành tố tụng.

    Về phương diện tổ chức, bộ máy và nhân sự, dưới sự chỉ đạo chặt chẽ của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội trong việc đón trước chủ trương thu gọn đầu mối Cơ quan Điều tra ở Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Viện Kiểm sát tỉnh đă kiên quyết thu gọn đầu mối bộ máy kiểm sát điều tra; triển khai kịp thời cho nhiều đơn vị Viện Kiểm sát cấp huyện thực hiện tăng thẩm quyền mới về tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng H́nh sự và Bộ luật Tố tụng Dân sự; Thực hiện việc bổ nhiệm lại và bổ nhiệm mới Kiểm sát viên các cấp trên phạm vi cả nước theo tiêu chuẩn và quy tŕnh mới. Thực hiện nghiêm chỉnh Nghị quyết 388 về bồi thường cho những trường hợp oan do Viện Kiểm sát gây ra khi thực hiện các biện pháp tiến hành tố tụng h́nh sự.

    Tất cả những điều đó cho thấy cơ quan Viện Kiểm sát đă và đang vượt qua những thách thức cực kỳ to lớn một cách vững chắc trên con đường cải cách tư pháp của đất nước..

    Về đầu trang

   

Trong Nghị quyết số 48 ngày 24/5/2005 và Nghị quyết số 49 ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị có chỉ rơ hướng chuyển đổi Viện Kiểm sát nhân dân thành Viện Công tố. Xin cho biết rơ hơn về vấn đề này?

    Nghị quyết số 48 ngày 24/5/2005 của Bộ chính trị “Về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020” và Nghị quyết số 49 ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị “Về chiến lược cải cách tư pháp đến 2020” có ư nghĩa định hướng cực kỳ quan trọng trong việc xây dựng nền tư pháp của đất nước chúng ta phù hợp với sự phát triển toàn diện về kinh tế, chính trị, xă hội 20 năm đầu của thiên niên kỷ mới.

    Một lần nữa, trong lịch sử phát triển của nền tư pháp nước ta, vấn đề phát triển cơ quan Viện Kiểm sát lại trở thành vấn đề trung tâm, theo nghĩa: trong nội dung chuyển đổi từ một mô h́nh tổ chức hiện có sang một mô h́nh mới với chức năng thay đổi. Nghị quyết số 48 viết: “Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của Viện Kiểm sát theo hướng bảo đảm thực hiện tốt chức năng công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp. Nghiên cứu hướng tới chuyển thành Viện Công tố”. Nghị quyết số 49 viết: “Trước mắt, Viện Kiểm sát nhân dân giữ nguyên chức năng như hiện nay là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Viện Kiểm sát nhân dân được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức của Toà án. nghiên cứu việc chuyển Viện Kiểm sát thành Viện Công tố, tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra”.

    Như vậy cả hai Nghị quyết quan trọng của Bộ Chính trị đều xác định con đường phát triển của Viện Kiểm sát trong những năm sắp tới là chuyển thành Viện Công tố. Việc chuyển đổi này chỉ là vấn đề thời gian và lộ tŕnh thực hiện. Theo như những công việc chính phải làm từ nay đến năm 2010 được xác định ở Nghị quyết 49 th́ trong số 11 công việc chính, không có việc chuyển Viện Kiểm sát thành Viện Công tố trước năm 2010.

    Phương châm và nguyên tắc định hướng của chúng ta là phải chủ động chuẩn bị tốt tất cả các điều kiện để thực hiện việc chuyển đổi, v́ không như vậy th́ tổ chức và hoạt động của Viện Kiểm sát sẽ gặp vô vàn khó khăn trong giai đoạn giao thời khi xuất hiện những tổ chức mới với những chức năng mới; và càng khó khăn hơn nữa khi thẩm quyền và trách nhiệm của Viện Kiểm sát rất nặng nề nhưng cơ chế chung để đảm bảo cho Viện Kiểm sát thực hiện lại chưa đầy đủ th́ từng bước đi của Viện Kiểm sát đều có những vướng mắc phải tháo gỡ. Do đó trong giai đoạn từ nay đến 2010, Viện Kiểm sát nhân dân các cấp phải thực hiện tốt 11 công việc chính cùng với các cơ quan nhà nước khác như Nghị quyết 49 đă chỉ ra. Và nếu chúng ta chuẩn bị tốt tất cả các điều kiện, th́ sẽ không bị động trong việc chuyển đổi, nếu những điều kiện cần thiết cho việc chuyển đổi ấy xảy ra sớm hơn so với dự kiến.

    Vấn đề quan trọng là chế định Viện Công tố kể cả về mặt chức năng, nhiệm vụ và mô h́nh tổ chức không phải là vấn đề ǵ quá mới mẻ đối với chúng ta. Lịch sử cách đây 45 năm, các thế hệ cha anh của chúng ta đă trên cơ sở kinh nghiệm về tổ chức và hoạt động của Viện Công tố (giai đoạn 1945 - 1960) để thực hiện bước chuyển từ Viện Công tố để thành lập Viện Kiểm sát thành công trọn vẹn. Sau gần một nửa thế kỷ, thế hệ của chúng ta lại bằng kinh nghiệm tổ chức và hoạt dộng của Viện Kiểm sát hun đúc từ thực tiễn của chính nửa thế kỷ đó để thực hiện bước chuyển từ Viện Kiểm sát sang Viện Công tố theo yêu cầu mới của cải cách tư pháp. nhưng lịch sử không phải là sự lặp lại mà là những vận động liên tục và có những bước nhảy lớn để tiến về phía trước. Bằng kinh nghiệm hoạt động thực tiễn kiểm sát 45 năm qua, với sự trưởng thành của các thế hệ cán bộ kiểm sát hôm nay, việc chuyển đổi Viện Kiểm sát thành Viện Công tố sẽ được thực hiện đúng như Nghị quyết của Bộ Chính trị. Vấn đề có ư nghĩa cốt tử là chúng ta phải chủ động nghiên cứu đề xuất với Trung ương Đảng và Quốc hội mô h́nh tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Viện Công tố một cách thuyết phục nhất, gắn liền với việc đổi mới các cơ quan nhà nước để đảm bảo tính đồng bộ của hệ thống các cơ quan nhà nước.

    Về đầu trang

   

Để đáp ứng được yêu cầu trên, trước mắt chúng ta cần quan tâm đến những nhiệm vụ nào?

    Viện kiểm sát nhân dân cần tập trung hết sức để thực hiện tốt 8 nhiệm vụ mà Nghị quyết 49 đă chỉ rơ là: Hoàn thiện chính sách, pháp luật h́nh sự, pháp luật dân sự và thủ tục tố tụng tư pháp; Xác định rơ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ chức bộ máy, trọng tâm là xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân; Hoàn thiện các chế định bổ trợ tư pháp; Xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp và bổ trợ tư pháp trong sạch vững mạnh; hoàn thiện cơ chế giám sát của các cơ quan dân cử và phát huy quyền làm chủ của nhân dân đối với các cơ quan tư pháp; Tăng cường hợp tác quốc tế về tư pháp; Bảo đảm cơ sở vật chất cho hoạt động tư pháp; Hoàn thiện cơ chế lănh đạo của Đảng đối với công tác tư pháp. Trong số các biện pháp cụ thể được nêu trong Nghị quyết cải cách tư pháp có một số vấn đề Viện Kiểm sát nhân dân cần quan tâm chú ư để thực hiện một cách kịp thời từ nay đến 2010.

    Thứ nhất: “Phân định rơ thẩm quyền quản lư hành chính với trách nhiệm, quyền hạn tư pháp trong hoạt động tố tụng tư pháp theo hướng tăng thẩm quyền và trách nhiệm cho Kiểm sát viên để họ chủ động thực thi nhiệm vụ, nâng cao tính độc lập và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hành vi và quyết định tố tụng của họ”. Theo phương hướng này th́ cần phải có những sửa đổi rất căn bản về thẩm quyền và trách nhiệm của kiểm sát viên trong các Bộ luật tố tụng dân sự và bộ luật tố tụng h́nh sự và các quy chế công tác kiểm sát.

    Thứ hai: Xung quanh vấn đề thủ tục giám đốc thẩm, Nghị quyết 49 đă xác định: “Từng bước hoàn thiện thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo hướng quy định chặt chẽ những căn cứ kháng nghị và quy định rơ trách nhiệm của người ra kháng nghị đối với bản án hoặc quyết định của Toà án đă có hiệu lực pháp luật, khắc phục t́nh trạng kháng nghị tràn lan thiếu căn cứ”.

    T́nh h́nh thực tế cho thấy: Vấn đề xem xét đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm ngày một gia tăng với số lượng đơn quá lớn; Cộng với một số quy định mới mà Bộ luật tố tụng dân sự 2004; Bộ luật tố tụng h́nh sự 2003 đă mau chóng không đáp ứng được với t́nh h́nh thực tiễn và c̣n tạo ra những cơ chế làm t́nh trạng khó khăn cho các cơ quan tư pháp trở nên trầm trọng hơn. Sức ép của các đơn đề nghị xem xét kháng nghị giám đốc thẩm đă đẩy các cơ quan tư pháp, kể cả ở cấp cao nhất vào sự vụ. Do đó, trong hệ thống cơ quan Viện Kiểm sát, nhất là ở Viện Kiểm sát nhân dân tối cao phải tập trung giải quyết bằng được t́nh trạng này và phải coi đây là một trong những hướng ưu tiên số 1 trong quá tŕnh thực hiện các biện pháp cải cách tư pháp hiện nay.

    Thứ ba: Các cơ quan nghiên cứu và tham mưu của Viện Kiểm sát nhân dân cần phối hợp với các cơ quan khác để nghiên cứu chủ trương được nêu trong Nghị quyết 49 về: “Tăng thời hạn bổ nhiệm chức danh tư pháp hoặc thực hiện chế độ bổ nhiệm không có kỳ hạn” đối với chức danh kiểm sát viên để sớm có những đề xuất mang tính khả thi tŕnh các cơ quan có thẩm quyền với những luận chứng khoa học thuyết phục về vấn đề này .v.v….

    Về đầu trang

   

 


Trang chủ

Những hỏi đáp và thắc mắc về trang Thông tin điện tử này xin liên hệ với chúng tôi qua số máy 0350836654 hoặc 0350862541 - Email: nqdh@yahoo.com.
Bản quyền thuộc VKSND tỉnh Nam Định.
Cập nhật: 04/05/2007.